1. Các phương pháp tính giá thành sản phẩm
Lựa chọn phương pháp tính giá thành phụ thuộc vào quy trình công nghệ sản xuất, và đối với các DN chế biến thủy sản trên cùng một quy trình công nghệ sản xuất một nhóm sản phẩm cùng loại, nhưng quy cách khác nhau nên giữa chúng không có hệ số quy đổi, và giữa chúng có mối quan hệ theo cách phân loại thành nhiều thứ hạng sản phẩm (tôm, ghẹ, cua…). Do đó, kế toán phải xác định tỷ lệ tính giá thành giữa tổng giá thành thực tế và tổng giá thành theo định mức.
Kỳ tính giá thành: vì khối lượng sản xuất cho từng nhóm sản phẩm của các DN chế biến thủy sản tương đối lớn, chu kỳ sản xuất sản phẩm ngắn và liền nên kỳ tính giá thành theo tháng là hợp lý.
Đối tượng tập hợp chi phí: tập hợp theo từng phân xưởng chế biến là hợp lý.
Đối tượng tính giá thành: theo nhóm sản phẩm.
Đánh giá giá trị sản phẩm dở dang: chu kỳ sản xuất ngắn, sản phẩm dở dang không có hoặc có không đáng kể nên không đánh giá.
Hạch toán kế toán theo phương pháp kê khai thường xuyên.
Tính giá xuất kho theo phương pháp đích danh hoặc theo phương pháp bình quân cuối.

- Xây dựng định mức cho chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
T= {1 -[(1 -T.) (1 -T2) (1 -T3)… (1 -Tn)]}* 100(%)
Và xác định nhu cầu nguyên vật liệu cần cung cấp để cung cấp để sản xuất sản phẩm DN sử dụng hệ số định mức K (định mức kg nguyên liệu/kg sản phẩm)
K= 1 /(1 -T)
– Quá trình sơ chế: tiêu hao giảm trọng lượng tự nhiên: do các tạp chất có trong cá, tôm, mực..
– Quá trình chế biến: tiêu hao do vặt đầu, fille cá.., bỏ ruột, da, xương….
- Xây dựng định mức cho chi phí nhân công trực tiếp
Định mức chi phí nhân công trực tiếp bao gồm định mức giá của một giờ lao động trực tiếp và định mức lượng thời gian cần thiết. Định mức về giá một đơn vị thời gian lao động trực tiếp căn cứ mức lương căn bản một giờ, các khoản phụ cấp, các khoản trích theo lương. Định mức về lượng thời gian cho phép để hoàn thành một đơn vị sản phẩm dựa trên phương pháp kỹ thuật là chia công việc theo nhiều công đoạn rồi kết hợp với bảng thời gian tiêu chuẩn của những thao tác kỹ thuật để định thời gian chuẩn cho từng công việc. Thời gian cần thiết để sản xuất một sản phẩm được xác định như sau: thời gian cần thiết để sản xuất một sản phẩm; thời gian nghỉ ngơi, lau chùi máy; thời gian cho sản phẩm hỏng.
– Định mức chi phí sản xuất chung
– Định mức biến phí sản xuất chung được xây dựng theo định mức giá và lượng. Định mức giá phản ánh biến phí của đơn giá chi phí sản xuất chung phân bổ. Định mức lượng, ví dụ thời gian thì phản ánh số giờ của hoạt động được chọn làm căn cứ phân bổ chi phí sản xuất chung cho một đơn vị sản phẩm.
– Định mức định phí sản xuất chung: Được xây dựng tương tự như ở phần biến phí.
3. Phương pháp xác định các yếu tố chi phí phát sinh
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Về chi phí nhân công trực tiếp

- Về chi phí sản xuất chung
Chi phí vật liệu phụ, chi phí công cụ dụng cụ xây dựng định mức sử dụng để giảm tỷ lệ thất thoát. Có thể xây dựng định mức sử dụng.
Đối với chi phí năng lượng: DN nên xây dựng định mức tiêu hao cho từng máy làm cơ sở để phân bổ chi phí, vì DN có thể có nhiều phân xưởng
Chi phí của hoạt động sản xuất phụ cần phải xác định một cách đầy đủ mới có thể đánh giá được hiệu quả từng hoạt động. Trong thực tế, nhiều công ty có một số khoản chi phí phục vụ cho hoạt động sàn xuất phụ đã không được tính vào giá thành sản phẩm phụ. Giá thành của sản phẩm phụ có thể sử dụng phương giản đơn để tính sau đó căn cứ vào định mức đã xây dựng để phân bổ.









contact@misa.com.vn
0904 885 833
https://sme.misa.vn/